Ngài là nhà cách mạng, Ngài là nhà cải cách
nhưng khía cạnh quan trọng hơn cả trong bản chất của đấng Christ là vai
trò của một Đấng Giải Cứu
nhân loại.Cuộc đời Ngài tận hiến cho công tác giải thoát con người
khỏi xiềng xích tội lổi và mang con người về với Thiên Chúa là đấng
mà con người đã phản nghịch. Ngài
phán với đoàn dân theo Ngài : "Con
Người đã đến để tìm và cứu kẻ bị hư mất." (Lu-ca 19:10)
Một câu chuyện kể rằng có một bá tước người
Nga và vợ đi trên chiếc xe ba ngựa qua một miền quê vắng vẽ. Hành khách duy nhất khác trên xe là
Andrei,tên đầy tớ trung thành.
Thình lình, không biết từ đâu, một bầy chó sói
đói ăn bổng xuất hiện và tấn công chiếc xe. Bá tước liền thả một con ngựa, tưởng rằng bầy chó sói
sẽ bắt nó làm mồi và mình có thì giờ chạy thoát. Nhưng ông đã lầm. Bầy chó ăn thịt con ngựa trong giây
lát, và mùi máu làm chúng thêm hung tợn. Chúng lại chạy theo tấn công.
Bá tước và vợ rất kinh sợ. Họ không thể thả thêm một con ngựa vì
chiếc xe sẽ lật nhào, mà những chiếc miệng đói thì chỉ cách trong
gang tất.
Cuối cùng, khi tất cả hy vọng dường như tiêu tan,
người đầy tớ trung thành Andrei đã tự nhảy xuống làm mồi cho bầy
chó dữ. Vợ chồng bá tước thoát
nạn bởi vì người đầy tớ yêu mến họ đến nổi đã hy sinh mạng sống
mình cho họ.
Chúa Giê-xu cũng đã làm như vậy. Ngài từng bình đẳng với Đức Chúa
Trời, nhưng Ngài từ bỏ vinh hiển Thiên đàng, mang thân xác con người
để giải cứu thế nhân hư mất.
Tiêu chuẩn của Thượng đế là toàn hảo, nhưng con người không
thể đạt đến tiêu chuẩn đó. Giá
phải trả quá cao. Để thực hiện
điều này, Đấng Christ đã hy sinh mạng sống Ngài như một cái giá trả
cho con người, để họ có thể đến với Thiên Chúa mà không có bất cứ
một phương pháp nào khác.
Thánh kinh ghi rằng : " Chúng ta thảy đều như Chiên đi lạc, ai theo đường nấy, Đức
Giê-hô-va đã làm cho tội lổi của hết thảy chúng ta đều chất trên
Người."(Ê-sai 53:6). Giê-xu phán : " Ta là người chăn hiền lành, người chăn hiền lành vì chiên
mình phó sự sống mình."(Giăng
10:11)
Chúa Cứu Thế Giê-xu đã làm hòa giửa Thượng đế với con người, và truyền bá sứ điệp của Thượng đế đến với thế nhân lạc mất. Có bốn điều khiến cho sứ điệp đó trở thành quan trọng nhất trong mọi thời đại.
1. Đó
là sứ điệp yêu thương
Chúa Giê-xu phán : " Vì Đức Chúa Trời thương yêu thế gian, đến nổi đã ban Con Một
của Ngài, hầu cho hể ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống
đời đời."(Giăng 3:16)
Một vài tôn giáo dạy người ta tin rằng Thượng
đế là đấng bất thường, hay báo thù đòi hỏi sự toàn hảo nơi tạo
vật của Ngài, hay nổi giận nếu không đạt được đều mình muốn. Chúa Giê-xu đã chứng minh rằng điều
đó đã hoàn toàn sai sự thật. Làm
thế nào một Thượng đế giận dữ lại hy sinh Con Một của Ngài cho thế
gian mà Ngài đã tạo dựng? Dĩ
nhiên là không! Chính bởi tình
thương bao la của Ngài đối với con Người mà Ngài đã kiên nhẫn và
triều mến họ mặc dầu con người bất tuân lời Ngài từ thế hệ này
đến thế hệ khác.
Cũng chính tình thương này thúc đẩy Đấng Christ
trở thành người và chết cho mọi người.
" Này sự yêu thương ở tại
đây : ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Ngài, nhưng Ngài đã yêu chúng
ta, và sai Con Ngài làm lễ chuộc tội chúng ta." (I Giăng 4:10) "Bởi đó chúng ta nhận biết lòng yêu thương ấy là Chúa đã vì
chúng ta bỏ sự sống." ( I Giăng
3:16)
2. Đó
là sứ điệp ban sự sống
Các nhà tâm lý cho biết rằng ý chí sinh tồn là
sự thúc đẩy mạnh nhất trong con người.
Chính lòng muốn sống này đã giúp hàng ngàn người Do Thái sinh
tồn ngay cả trong những trại tập trung hãi hùng ghê rợn của Đức
Quốc xã. Để đáp ứng cho thứ ý
chí này mà người ta viết ra những loại sách như " Làm thế nào để Cười Nhiều hơn và Sống lâu hơn".
Chúa Cứu Thế không hứa một đời sống dài lâu
nhưng là sự sống vĩnh cữu. " Ai nghe
lời Ta và tin Đấng đã sai Ta thì được sự sống đời đời, không đến sự
phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống." (Giăng 5:24). Và một lần nữa Ngài phán : " Ta là sự sống lại và sự sống, kẻ nào tin Ta thì sẽ sống,
mặc dầu đã chết rồi. Còn ai sống
mà tin Ta thì không hề chết." (Giăng
11:25-26)
Hậu quả của tội lổi là sự chết. " Tiền công của tội lổi là sự chết."
(Rôma 6:23) "Linh
hồn nào phạm tội thì phải chết."(Ê-xê-chi-ên
18:4) . Để trả giá đó Chúa
cứu thế đã chết cho tất cả mọi người dù ở bất cứ thế hệ
nào. Bây giờ Ngài ban sự sống
đời đời cho những ai nhận sự hy sinh đó bằng cách tin ở Ngài và mời
Ngài làm Cứu Chúa đời mình. Ngài
phán : " Ta đã đến hầu cho chiên
được sống và sự sống dư dật." (Giăng
10:10)
3. Đó
là sứ điệp đời đời
Sứ điệp của Chúa Cứu Thế chỉ chứa trong 89 đoạn
Kinh Thánh, nhưng đã được hàng ngàn giáo sư và học sinh của rất
nhiều đại học nghiên cứu. Hàng
ngàn bộ sách đã và đang được viết về sứ điệp ấy. Tất cả những học giã trong lịch sữ và
tất cả những nhà thông thái ngày nay vẫn còn kinh ngạc trước sự
sâu nhiệm và khôn ngoan của tình yêu và sự hợp lý của Đạo
Ngài. Nếu Thánh kinh chỉ là một
quyển sách như những quyển sách khác - một số người đọc - ít người
nhớ đến, và chỉ trưng bày trong thư viện hay quăng vào một só nào
đó.
Tuy nhiên sứ điệp của Thiên chúa vẫn đứng vững
trước sự thử thách của thời gian. Nhiều nhà chỉ trích cố gắng bác
bỏ nó, người cuồng tín cố gắng từ khước nó, lịch sữ cố gắng quét
sạch sự hiện hữu của nó. Nó bị gán cho những nhãn hiệu như chuyện
hoang đường, dối trá, sản phẩm của trí tưởng tượng, nhưng sau cùng,
khi tất cả những lời lăng mạ qua đi, khi những người chỉ trích khàn
giọng, khi kẽ chế diểu trở về nhà, chỉ một điều còn lại và bất
biến - Lời Hằng Sống của Đức Chúa Trời.
Những bài giảng của Chúa Cứu Thế được gọi là
những Tuyệt Tác Bất Tữ. Những
văn sĩ vay mượn chúng, luật pháp đặt nền tảng trên đó, và tương lai
nhân loại đã được tiên báo.
Thánh kinh đã được dịch ra hơn một ngàn thứ tiếng và không một
quyển sách nào có thể so sánh với lượng phát hành của Thánh Kinh.
" Không một ai
sống trên trái đất này, dù ở chân trời hay góc bể, mà không bị
ảnh hưởng ít nhiều bởi sứ điệp Tin Lành. Mới nghe qua, xem có vẽ như quá lố, nhưng nếu xem xét kỹ
thì đây là một sự thật." ( Báo
Intelligence Digest, số tháng 12 năm 1953)
Thánh Kinh đã được viết hàng ngàn năm về trước,
thế mà con người của thế kỷ hai mươi vẫn tìm được sự đáp ứng cho nhu
cầu của họ như những tín đồ đầu tiên tìm được. Thời gian không làm lu mờ sự thật bất
biến rằng Đức Chúa Trời yêu thương và quan tâm, rằng đấng Christ có
câu giải đáp cho mọi nan đề, rằng con đường duy nhất của nhân loại
đến với Thượng Đế là qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.
4. Đó
là sứ điệp giải thoát
Người ta hỏi Sir James Simpson rằng điều nào ông
cho là sự khám phá vĩ đại nhất của ông. Thay vì trả lời " Chloroform", thuốc gây mê mà ông đã tìm
ra, ông nói : " Sự khám phá vĩ đại
nhất của tôi xảy ra vào ngày 25 tháng 12 năm 1861, đó là tôi là
một tội nhân và Chúa Cứu Thế là Cứu Chúa của tôi."
Người mù từ thuở sanh ra, bị buộc phải tuyên bố đấng Christ là một tội nhân sau
khi Ngài chữa lành cho anh ta. Anh
đã trả lời : "Tôi không biết người
đó có phải là tội nhân hay không.
Nhưng tôi biết chắc một điều : tôi đã mù mà bây giờ lại
sáng." Dù là sự mù lòa thuộc
linh của Simpson hay mù lòa thuộc thể của người Do Thái trong thế kỷ
thứ nhất này, thì ánh sáng của Tình yêu và sự hy sinh của Đấng
Christ vẫn kết quả như nhau.
Tội lổi làm nghẹt ngòi, bóp méo, và làm biến
dạng tâm trí và tính tình của chúng ta; Đấng Christ giải thoát và ban
cho chúng ta sự tự do hầu trở thành mẫu người mà Thiên Chúa mong
muốn. Đời sống sẽ không đột
nhiên trở thành một thảm hoa Hồng, nhưng sự thất vọng và những nổi
khó khăn sẽ không còn đè bẹp chúng ta.
Đó là điều mà Cứu Chúa muốn dạy khi Ngài phán : " Nếu Con buông tha các ngươi, thì các
ngươi thật được tự do."(Giăng
8:36). Ngài cũng phán : " Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế
gian, nhưng hãy cứ vững lòng, Ta đã thắng thế gian rồi."(Giăng 16 : 33). Những ai từng đối diện với Chúa
Giê-xu sẽ không còn giống như trước nữa. Ta hãy nghe sau đây những lời làm chứng thốt ra từ miệng
một số người :
1.
Người
mù Ba-ti-mê : " Chúa Giê-xu
đã giới thiệu cho tôi vào hai thế giới.
Ngài đã chửa lành đôi mắt xác thịt của tôi và mở cho tôi
đôi mắt thuộc linh để thấy những điều tôi mù lòa ngày trước."
2.
Mari
Ma-đơ-len : " Trước kia
tôi nghĩ rằng khi được người khác yêu là đủ thỏa mãn. Tôi đã hoàn toàn vỡ mộng. Đấng Christ ban cho tôi nhìn thấy ý nghĩ
thật. Bây giờ sự sống và tình
yêu thiên thượng sôi sùng sục trong tôi."
3.
La-xa-rơ : " Chúa Giê-xu đã chạm đến thể xác hư
nát của tôi! Bây giờ tôi hưởng một đời sống mới trong một thế gian
mới, vượt lên trên những ràng buột của đời sống trần tục này."
4.
Người
đàn bà phạm tội tà dâm : " Chúa Giê-xu là người duy nhất có quyền xử tữ tôi. Và Ngài là Đấng duy nhất không làm
điều đó! Ngài đã lấy đi đời sống hèn mạt của tôi và trả lại cho
tôi một đời sống trong sạch. Bây
giờ Ngài ban cho tôi quyền năng để sống một cuộc đời thánh khiết."
5.
Ni-cô-đem : " Tôi là một giáo sư Thần học mà không
biết những điều căn bản về thần học cho tới khi tôi đối diện với
Chúa Giê-xu. Ngài đã tuôn tràn
vào khoảng trống của đời sống tôi bằng Lời Hằng Sống của Ngài."
6.
Người
đàn bà Sa-ma-ri : " Chúa
Giê-xu đã dập tắt cơn khát thuộc linh của tôi. Ngài cho tôi thứ nước mà tôi chưa hề
nếm. Và kỳ diệu thay, nước này
còn tưới mát cho những đời sống khô cằn khác nữa."
7.
Xa-chê : " Tôi đã từng bị người ta xa lánh, hất
hủi, khinh rẽ cho đến khi Ngài phục hồi địa vị tôi dưới mắt Thiên
Chúa và Xã hội."
8. Thô-ma nghi ngờ : " Tôi sanh ra là một con người hay nghi
ngờ. Tôi không thể nào tin rằng
Chúa Giê-xu là kẻ chết sống lại.
Ngài không hề trách cứ tôi, và khi Ngài bày tỏ chính mình cho
tôi, tôi không thể cầm lòng mà xưng rằng : "Lạy Chúa tôi và Đức
Chúa Trời tôi"."
9. Thầy Đội : " Tôi đã quá chai lì trước cái chết của nhiều tữ tội, nhưng trường hợp Chúa Giê-xu thì khác, thái độ của Ngài trên Thập tự giá, lời cầu nguyện của Ngài cho kẻ thù và chính thái độ điềm nhiên trong lúc chết của Ngài đã đưa tôi đến kết luận không hề lay chuyển rằng chính Ngài là Con của Đức Chúa Trời."
|
|
|
|