BẠN THẬT SỐNG?
Bạn thật đang sống chăng ? Xin lổi bạn, tôi đã hỏi một câu thật ngớ ngẩn như thế,
nhưng đây là vấn đề vô cùng quan trọng, nên tôi phải đề cập
đến. Nếu bạn không thể quả quyết
trả lời "
Vâng,tôi đang sống", có
lẻ bạn chỉ có những vận động của thể xác mà chưa kinh nghiệm được
sự thỏa mãn của sự sống.
Những ý tưởng sai lầm về
sự sống có thể khiến chúng ta mất sự sống thật. Vài người cho rằng cuộc sống chính là
những nhu cầu vật chất chúng ta đang nắm giữ, theo họ, sống là hưởng
thụ cho thật sung sướng và đầy đủ : xe hơi đắt tiền, nhà cửa sang
trọng, y phục đẹp đẽ v.v. Như thế chúng ta cứ mãi lo thu góp tài sản
và đến bao giờ mới chịu bắt đầu sống thật ? Của cải vật chất chỉ là những dụng cụ và đồ trang bị
cho cuộc đời. Những đồ dùng vật chất
tự chúng không thể đem lại cho ta sự thỏa mãn lâu dài được. Chứng cớ rỏ ràng ấy là chúng ta rất
mau chán những gì chúng ta có, và không ngừng ao ước những điều mới
lạ. Chúng ta luôn nghĩ nếu có
thêm vật mình đang khao khát thì sẽ mãn nguyện, nhưng thực tế không
như vậy. Đạt được vật mong muốn
chỉ là sự kích thích lòng tham tiến xa hơn mà thôi. Chẳng mấy chốc chúng ta lại biến
thành nô lệ cho của cải vật chất và là đầy tớ những ước vọng bất
tận. Trong khi đó sự sống trốn
chạy xa và khiến chúng ta cảm thấy cuộc đời thật trống rỗng.
Một số người lại nghĩ
sống là hoạt động không ngừng.
Thấy một người lúc nào cũng làm việc, họ liền bảo :
"Đó
chính là người thật đang sống !!!".
Lao mình vào hoạt động này sang hoạt động khác, gánh vác nhiều
công việc, gia nhập nhiều tổ chức, phục vụ trong nhiều ủy ban, luôn
luôn cầm điện thoại và đi hết nước này đến nước khác vẫn thường
là hình ảnh hiện đại của con người đầy sức sống. Thế nhưng chính họ mới là kẻ vô cùng
run sợ trước câu hỏi : "Bạn thật đang sống chăng ?". Lúc nào họ
cũng xua đuổi khỏi tâm trí những nghi vấn như : "Hoạt động của bạn
thêm được gì cho bạn ?". Càng đi
nhanh họ càng phải tiến nhanh hơn để dập tắt mệt nhọc và chán
nản. Có ai tin được đó là hình
ảnh thật và cuối cùng của cuộc đời không ?
Người khác cho rằng sự
sống gói trọn trong thành công và sự nghiệp. Chúng ta đặt một mục đích rồi ép mình tiến tới đích
đó. Chẳng hạn một thanh niên nọ
muốn trở thành triệu phú trước 40 tuổi.
Mục đích của chàng không những là tài sản nhưng còn là niềm
kiêu hãnh muốn đạt được đến đích lúc còn trẻ tuổi. Trên con đường thực hiện, có khi chàng
mất những bạn thật. Chàng trở
thành kẻ xa lạ trong gia đình.
Thành công của chàng chỉ là một kết quả trống rỗng. Chàng phải làm gì với quãng đời còn
lại ? Chàng đã mắc bẫy trong thói
quen tự tạo của mình, vì hiện nay chàng không thể làm gì hơn là cứ
tiếp tục kiếm thêm tiền. Ngày
ngày chàng sống trong lo âu giử gìn của cải. Chàng nghỉ bạn bè chú ý đến mình chỉ vì mong lấy điều gì
của chàng. Chàng cố gắng tự
thuyết phục rằng, mình đang sung sướng, mình đang có tất cả những gì
kẻ khác mong ước trong cuộc đời.
Thế nhưng sự sống có phải là tất cả những điều đó không ?
Nếu có người hỏi chàng : "Bạn thật đang sống chăng ?", có lẽ câu
hỏi ấy sẽ khiến tâm trí chàng bị ray rứt không ngừng.
Làm sao có thể biết chắc
chúng ta thật đang sống ? Trước hết, chúng ta phải nhận thức được
nguyên nhân chính yếu phân biệt giửa hiện hữu và sống thực. Một thiếu phụ phải làm việc vô cùng
nhọc nhằn để nuôi sống bản thân cùng ông chồng lười biếng, đã trả
lời khi có người hỏi tại sao bà chịu nổi ông chồng như vậy :
"Tôi
tạo cuộc sống, nhưng ông ta làm cuộc sống có ý nghĩa.". Theo bản năng, bà ta biết điều cần
yếu thật trong cuộc sống ấy là sự tương giao thương yêu giửa người
với người. Hiện hữu trở thành sự
sống khi - và chỉ khi - trung tâm của nó là mối tương giao kỳ diệu
giửa người này với người khác.
Giả thử có lúc bạn nắm được tất cả những gì bạn muốn về
của cải, thành công, danh vọng, uy tín, thế lực, tri thức cùng sức khỏe,
nhưng lại mất tất cả những tương giao cá nhân, khi ấy bạn có còn
cảm thấy cuộc đời đáng sống không ? Nếu phải chọn lựa, bạn há
chẳng chọn hoàn cảnh ngược lại để được tương giao với gia đình, bạn
bè cùng đoàn thể, dù phải thiệt thòi mọi điều khác hay sao ?
Nếu còn đặt của cải vật
chất trên sự tương giao nhân loại, chúng ta vẩn chưa tìm được sự
sống. Cha mẹ thương lầm lẫn điều
này. Đôi khi họ chú tâm đến nhà
cửa, vườn tược, bàn ghế, cùng với xe hơi của mình hơn là cảm nghĩ
của con cái. "Đừng cào sước bàn
ghế", "Đừng làm dơ áo mới của má", "Đừng dẩm lên hoa.".Tất cả
những cái "đừng" này cùng nhiều cái đừng khác buộc con cái phải
nghe, chứng tỏ cha mẹ lo lắng đến tài sản hơn là sự bất mãn của con
cái đến mức độ nào. Nhiều bà mẹ
làm việc suốt ngày chẳng phải vì nhu cầu tài chánh, nhưng vì họ xem
trọng lợi tức phụ trội hơn là lo nuôi dưởng con cái. Một ngày kia họ phải trả giá. Con cái, do bản năng biết cha mẹ quí
tiền bạc cùng của cải hơn mình, và trong vô thức đã chống lại cha
mẹ. Đến tuổi tự lập, mối quan hệ
giữa cha mẹ với con cái bị đổ vỡ.
Cha mẹ sững sờ không hiểu vì sao con cái từ bỏ mình và cảm
thấy lo âu. Thật ra họ chỉ gặt
điều họ gieo. Đã quá muộn!.
Chúng ta sẽ mất sự sống nếu chúng ta xem trọng tri thức hơn những tương giao giữa những cá nhân với nhau. Sinh viên thường hay rơi vào lầm lỗi này. Lúc còn ở Đại học, họ sống trong trong bầu không khí mà mọi tư tưởng cùng quan niệm, mọi dử kiện cùng lý thuyết đều được gán cho một giá trị rất cao. Con người được phán đoán theo tiêu chuẩn trí thức, và bằng cấp là thước đo lường thành công của người sinh viên. Trong tương lai, người đó được một địa vị trong ban giảng huấn hay không cũng còn tùy thuộc giá trị những bài báo cùng sách vỡ người ấy xuất bản. Trường học chỉ là một thế giới tri thức lạnh lùng, trong đó mối tương giao giửa người với người là một điều may rủi. Theo lời tường trình của ban cố vấn sinh viên tại một trường Đại học lớn thì cô đơn chính là điều tối trọng của sinh viên. Điều đó là dĩ nhiên. Trong thế giới trí thức nơi mà ta đặt mối tương giao giửa người với tư tưởng lên trên mối tương giao giửa mình với tha nhân, chắc chắn mỗi cá nhân phải cảm thấy bị lạc loài và lãng quên.
Chúng ta sẽ mất sự sống
thật nếu chúng ta yêu chuộng những lý tưởng hơn là mối tương giao
nhân loại dù là những lý tưởng cá nhân, gia đình, tổ quốc hay là
triết lý trừu tượng hoặc là tôn giáo.
Dù lý tưởng có giá trị đến đâu cũng chỉ gây tan vỡ, đau thương
trong nhiều cỏi lòng khi con người nâng nó lên cao hơn mối tương giao
nhân loại. Danh dự gia đình chẳng
hạn cũng là một lý tưởng. Theo
văn hóa Nhật bản, đứa con nào mang hổ nhục cho gia đình phải bị
từ. Người vợ nào làm nhục gia
đình phải bị ly dị. Đầy tớ nào
không làm tròn một nhiệm vụ phải tự vẫn. Dưới hệ thống giá trị này, con người phải gánh chịu bao nhiêu
cam go không diễn tả được, nhưng ngày nay lớp người trẻ tuổi đang
chống lại những khuôn mẩu tư tưởng vô nhân đạo ấy. Người Tây phương cũng có thể sai lầm
dể dàng như vậy. Nhơn danh một vài
ngyên tắc, phong tục tiến bộ, công lý, bình đẳng, hòa bình và cả
dân chủ nữa, chúng ta có thể bị chà đạp nhân cách và phá vở mọi
tương giao quí báo. Tình cảm kính
trọng sâu xa đối với từng cá nhân đã bị vùi dập vì lòng sai mê
những nguyên tắc triết học, khoa học..v.v. Con người đã bị xử dụng -
và bị lạm dụng - làm phương tiện đưa đến một cứu cánh. Nhưng những
lầm lổi ấy có thể tránh được.
Sự cao cả của Chúa Giê-xu ấy là dù phải hoàn tất một sứ
mạng quan trọng, Ngài vẫn không bao giờ thiếu thông cảm dịu dàng đối
với mỗi cá nhân chung quanh Ngài.
Chẳng hạn Ngài trách người Pha-si-ri lúc nào cũng thích đặt
chủ nghĩa duy vật (lý tưởng trong cách cư xử tôn giáo) lên trên mối
quan tâm đến những nhu cầu cá nhân : "Vì loài người mà lập ngày
Sa-bát chứ chẳng phải vì ngày Sa-bát mà dựng lên loài người!"
(Mác 2:2). Ngài thấu rỏ điều
trọng yếu trong đời sống cá nhân và đoàn thể.
Để nhìn thấy rõ ràng tầm
quan trọng tối hậu của tương quan cá nhân trong cuộc sống, chúng ta
hãy quay sang câu chuyện do Chúa Giê-xu kể lại về "Người con trai
hoang đàng" (Lu-ca 15 : 11-24). Người
kia có hai con trai, đứa nhỏ nói với cha rằng : "Bây giờ con muốn giữ
phần gia tài của con. Con muốn
được độc lập". Người cha miễn
cưỡng chia tài sản gia đình cho con.
Chỉ vài ngày sau, chàng thanh niên bỏ nhà ra đi để tìm cuộc
sống tốt đẹp nơi chốn thị thành.Trong phần sau câu chuyện, chúng ta
sẽ thấy người cha vô cùng kiên nhẫn và hiểu biết, nhưng người con
đã cắt đứt mối tương quan đẹp đẽ với cha và xem tự do, gia tài,
những quyến rũ của cuộc sống đô hội cùng xã hội phóng túng vui
chơi giá trị hơn. Lúc rời bỏ cha,
chàng đã quay lưng khỏi điều quan trọng nhất của đời mình. Đó là khởi điểm sự chết, vì chết
trong ý nghĩa thâm sâu nhất là mất tương giao. Chàng thanh niên đã chọn chết hơn là sống. Lỗi chính yếu của chàng là gì ? Có
phải phung phí tiền bạc chăng ? Có phải chọn lầm bạn hữu chăng? Đó chỉ là những hậu quả. Lỗi chính của chàng là đã từ khước
mối tương giao với cha mình. Nếu
chàng có bỏ đi vì một lý do nào đáng kể như là tiếp tục việc học
hoặc kiếm việc làm đi nữa thì lỗi chàng cũng không nhẹ đi phần nào,
bởi cớ động lực cơ bản vẫ là muốn hoàn toàn cắt đứt mối tương giao
với cha. Vấn đề của câu chuyện
là chàng đã vứt bỏ mối liên hệ của đạo làm con vì ham muốn một
điều khác. Chàng tưởng sẽ tìm
thấy sự sống nơi thành thị, nhưng cuối cùng đã đánh mất nó thật sự.
Lúc còn tiền của, chàng
có tất cả mọi sự : bạn bè, sống sung túc, xa hoa và đầy đủ tiện
nghi; những thú vui vật chất được
thỏa mãn. Lúc hết tiền mọi sự
đều mất theo, chàng chỉ còn trơ trọi một mình. Cái tôi hiện tại của chàng cũng không còn được tôn
trọng nữa, trong dày vò, chán nãn và cô đơn, chàng đánh mất luôn
chính bản thân. Khi chúng ta đánh
mất luôn chính bản thân. Khi chúng
ta vất bỏ những tương quan căn bản, chúng ta sẽ mất ngay mối tương
quan với những gì thuộc về vật chất, tinh thần, lý tưởng và cuối
cùng với chính chúng ta nữa. Đó
là cô đơn, là sự chết.
Bây giờ đến khúc quanh
của câu chuyện Chúa Giê-xu kể : "Nhưng khi tỉnh ngộ, chàng trai ấy
mới tự nhủ : Tại nhà cha ta, biết bao người làm công được bánh ăn
dư dật, mà ta đây phải chết đói ! Ta sẽ đứng dậy trở về cùng cha
mà thưa rằng : "Thưa cha, con đã phạm tội với Trời và với Cha, không
đáng gọi là con của cha nữa, xin cha xử con như đứa làm mướn của cha
vậy". Chàng đã quay về với con
người thật của mình và hồi tỉnh lại.
Sau khi thử nghiệm mọi sự và khám phá rằng tất cả đều đưa
chàng đến với sự trống rỗng, chàng mới nhận thức được điều hệ
trọng thật chính là mối tương giao giữa chàng với cha. Nếu bảo người con chỉ lưu tâm đến thức
ăn cùng sự sung túc gia đình, thì chúng ta đã hiểu rất sai lầm vì
chàng trai đã cảm biết mình có tội.
Qua kinh nghiệm chàng đã nhìn thấy rỏ ràng lầm lỗi trầm trọng
của mình. Tội lỗi là bất cứ điều
gì phá vở mọi tương giao. Và tội
lớn nhất là tội nghịch với Trời, hay là tội nghịch với Thượng Đế,
đưa đến kết cuộc là xây lưng khỏi Thượng Đế. Đổ vỡ tương giao với Thượng Đế đưa đến đổ vỡ tương giao
với loài người và mọi vật khác.
Bây giờ chàng mới biết thế và quyết định sửa lỗi dù phải
mất cả thể diện. Chàng cương
quyết quay về, xoay hẳn một góc một trăm tám chục độ. Thay vì bỏ đi xa hơn, chàng trở về cùng
Cha. Hoặc nói cách khác chàng đã
ăn năn lầm lỗi.
Bây giờ chàng mới nhìn
thấy mối tương giao với cha quí báu đến nỗi chàng muốn quay về dù
biết không thể khôi phục lại địa vị ngày xưa. Chàng không mong được trở về như một người con trong gia
đình, chỉ đóng vai một đứa đầy tớ để được về nhà cũng đủ lắm
rồi. Đối với chàng, sự thay đổi
tâm hồn này chính là khởi đầu một sự sống mới. Trước kia chàng chỉ hiện hữu ; bây giờ
chàng mới thật sống. Như cha chàng
đã nói : "Con ta đây đã chết, bây giờ lại sống." (Luca đoạn 15
: 24 )
Đang khi kể câu chuyện
nầy, Chúa Giê-xu không chú trọng đến mối tương giao của chúng ta đối
với cha phần xác nhưng là với Thượng Đế. Tương giao cha con trong thí dụ trên được dùng với chủ ý
minh chứng tương giao đặt biệt giữa người với Thượng Đế. Bạn nhớ rằng Chúa Giê-xu thường khuyên chúng ta nghĩ đến Thượng Đế như
Cha trên Trời của chúng ta. Con
người đã từng quay lưng với Cha Thiên Thượng là đấng đã tạo dựng và
yêu thương mình. Kinh Thánh gọi đó
là tội lỗi. Tất cả những khó
khăn của nhân loại, cá nhân đoàn thể, quốc gia và quốc tế đều bắt
nguồn từ khởi điểm này. Ngay cả
nhửng nan đề của chàng thanh niên này cũng khởi nguồn từ lúc chàng
từ khước Cha mình. Mọi vấn đề
khác của nhân loại cũng phát sinh do thái độ của con người từ khước
tình yêu, cùng chương trình của Thượng Đế. Nơi nào có tội lỗi thì có sự chết, một hậu quả không
thể tránh được (Rô-ma 6 : 23)
Chúng ta có tự do lựa
chọn hành động mình, và phải nhận lấy hậu quả của mọi hành động
ấy. Chúng ta có thể tự ý chấp
nhận hoặc từ khước mối tương giao yêu thương Thượng Đế ban cho. Nếu chấp nhận chúng ta được sự sống ;
nếu khước từ, chúng ta lãnh sự chết.
Đó không phải lỗi Thượng Đế.
Đó là hậu quả lựa chọn của chúng ta, và chúng ta phải gánh
lấy trách nhiệm mình. Sách giáo
khoa vật lý dạy : nếu chúng ta lao mình qua cửa sổ từng lầu thứ mười
thì luật trọng lực sẽ tác dụng trên thân thể ta và chúng ta sẽ rơi
xuồng đất chết ngay. Chúng ta có
thể lựa chọn nhảy ra cửa sổ hay không, nhưng khi đã nhảy, chúng ta
không còn lựa chọn chết hay không chết được. Kinh Thánh cho chúng ta biết những định luật trong địa hạt
tâm linh cũng bất biến đối với chúng ta như thế. Nếu đã lựa chọn chối bỏ Thượng Đế,
chúng ta đã lựa chọn hậu quả của nó : sự chết tâm linh.
Tuy nhiên có một khác
biệt kỳ lạ và tuyệt diệu giữa những định luật vật lý và chương
trình Thánh của Thượng đế đó là dịp ăn năn. Chàng thanh niên trong câu chuyện trên đã xuống dốc,
xuống dốc và xuống mãi cho đến lúc va vào tảng đá tận đáy vực
sâu. Chàng đã mất tương giao với
Cha, với bạn hữu và cả với chính bản thân mình nữa (khi chàng không
còn tự trọng). Lúc tiến gần sự
chết tâm linh, chàng cũng lại gần bên cái chết thân xác vì đói
khát. Hai cái chết lúc nào cũng
nối đuôi nhau. Thế nhưng chính tại
điểm quyết định này, chàng vẫn còn dịp tiện ăn năn, dịp tiện quay về
với bản ngã thật của mình, diệp tiện tự ý trở lại cùng cha.
Cơ hội ăn năn sẽ trở nên
vô nghĩa nếu không có sự kiện quyết định toàn diện : Thượng Đế muốn
tiếp nhận chúng ta trở lại. Người
con trong câu chuyện trở về cùng cha với ý định làm một đầy tớ. Nhưng người cha không chịu như vậy. Người đã cắt đứt câu nói khéo léo
của đứa con, không cho chàng kịp nói hết câu : "Con không xứng
đáng được gọi là con của cha nữa, xin hãy xử con như một đứa ở mướn
của cha vậy". Người đã sai lấy
áo mới mặc cho con, đeo nhẫn vào tay và mang giày vào chân. Rồi sai giết một con bò mập làm lể
ăn mừng. Đây không phải là lúc
trách mắng, nhưng là lúc vui mừng! "Vì con ta đây đã chết mà bây
giờ lại sống, đã mất mà tìm lại được". Như người cha nhân từ trong câu chuyện, Thượng Đế chính
là một đấng nhân từ và tha thứ.
Bản chất Ngài vốn như thế.
Và đó là tin tức tốt lành mà Kinh Thánh cho chúng ta hay, tin
tức bất ngờ và kỳ diệu.
Tình yêu Thượng Đế dành
cho loài người hoàn toàn khác biệt với các loại tình yêu thường tình
trong mối tương giao nhân loại. Qua
kinh nghiệm thông thường, chúng ta nhận biết mình chỉ có thể được yêu
nếu đáp ứng được một vài điều kiện nào đó : nếu chúng ta dâng
hiến điều gì, trở thành người thế nào, làm được việc gì chẳng
hạn.Đó là loại Tình yêu Nếu. Ngay
cả tình yêu đẹp đẽ hơn hết, chúng ta cũng được yêu vì con Người
chúng ta như thế nào đó, vì chúng ta đáng yêu, giàu có, rộng rải,
thành công. Đó là loại Tình yêu Vì.
Nhưng Tình yêu của Thượng Đế khác hẳn, Ngài yêu chúng ta mặc
dầu chúng ta thế nào hoặc làm gì đi nữa. Đây là loại Tình yêu Mặc dù. Người cha trong câu chuyện kể trên yêu con trai ngay cả
lúc nó bỏ nhà ra đi. Người mong
chờ con về và trông ngóng con mỗi ngày lúc nó còn ở tận phương
xa. Khi con quyết định quay về, thấy
bóng con từ xa, người đã chạy đến ôm hôn con trai mình. Thượng đế yêu chúng ta ngay cả lúc
chúng ta loại bỏ và khinh rẽ Ngài.
Dù chúng ta có gian ác và suy bại đến mức độ nào, tình yêu
Ngài vẫn không thể xay khỏi chúng ta.
Ngái yêu trong lúc chúng ta xấu xa hơn hết, chính lúc chúng ta
đóng đinh Đấng Ngài đã sai xuống trần gian để cứu vớt chúng ta. Chẳng một ai hiện đang sống mà không
được Thượng Đế yêu từng giây, từng phút. Thế có nghĩa là mối tương giao kỳ diệu với Thượng Đế
đang nằm trong lòng cuộc đời được dành sẳn cho mỗi người. Thượng đế không thiên vị ai bao
giờ. Ngài ban sự sống cho mọi
người như nhau.
Tương giao giửa những cá
nhân thường vẫn khó điều hành hơn cả.
Phần đông chúng ta nhận thấy việc thu xếp tài chánh, điều
khiển máy móc, thực hiện những điều khó khăn thuộc về thể xác,
hoặc tiến hành mọi hoạt đông riêng tư vẫn dể dàng hơn là duy trì
những mối tương giao giửa người với người. Tại sao thế ? Vì tất
cả chúng ta đều đang cùng ở trong một tình trạng thiếu hụt tình
yêu. Tất cả chúng ta đều được
khao khát chú ý, được nhìn nhận, được yêu thương và quí chuộng. Bất mãn với điều mình nhận được,
chúng ta khước từ tha nhân. Cuộc
đời chúng ta là một chuổi phản ứng xấu xa của những va chạm cá
nhân. Người chồng bất mãn về nhà
trút đổ cho vợ, vợ trút cho con cái, con cái trút cho chó, chó trút
cho mèo. Đến đâu mới chấm dứt được ? Hết vòng này đến vòng khác
và cứ như thế tiếp tục mãi.
Chúa Cứu Thế Giê-xu là người duy nhất có thể
phá vỡ vòng hư hoại này. Ngài là
tình yêu của Thượng Đế thể hiện trong thân xác, được minh chứng trong
cuộc sống hàng ngày của Ngài suốt ba mươi ba năm trên đất với con
người. Ngài không đến để nói về Tình yêu, dạy về tình yêu hoặc minh giải những lý thuyết khó hiểu
về tình yêu. Ngài chỉ yêu. Ngay cả lúc kẻ thù giết Ngài trên
Thập tự giá, Chúa Giê-xu vẫn cầu thay cho họ : "Lạy Cha, xin tha
cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì"( Lu-ca 13-34). Khi ở trên Thập tự giá, Ngài bảo
chúng ta : "Hãy trút đổ lên Ta mọi bất mãn, cay đắng, oán hờn, ghen
tương, thất vọng cùng giận dữ của các người! Ta sẽ gánh hết và đem
vào cái chết." Viên tổng đốc La
Mã không thể tìm được một lỗi lầm nào trong Ngài, thế nhưng cả đám
đông hô lên : "Hãy đóng đinh hắn trên cây thập tự ! Hãy đóng
đinh hắn trên cây Thập tự !" Viên Thống Đốc bèn hỏi :
"Các ngươi giết một kẻ vô tội
sao?" Mọi người la to : "Xin
huyết Người đổ lại trên chúng tôi và con cái chúng tôi"
(Ma-thi-ơ 27 : 25). Chúa Giê-xu
không phản đối, cũng chẳng hề kháng cự. Câu chuyện đưa chúng ta đến kết luận : chính Chúa Giê-xu
đã lựa chọn chết như thế. Sau này
các môn đồ Ngài mới nhìn thấy ý nghĩa cái chết của Ngài : Con Đức
Chúa Trời phải chết để chuộc tội cho cả nhân loại. Ê-sai, một đại tiên tri sống 700 năm
trước Chúa Giê-xu đã thấy trước cái chết của Ngài là giải pháp duy
nhất làm phương thuốc cho loài người : "Người đã mang sự đau ốm
của chúng ta; đã gánh sự buồn bực của chúng ta; Người đã vì tội
lỗi của chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác của chúng ta mà bị thương;
bởi sự sửa phạt Người chịu, chúng ta được bình an, bởi lằn roi Người,
chúng ta được lành bịnh" (Ê-sai 15 : 4-5)
Giê-xu đã chết, nhưng Ngài
không chết mãi. Đức Chúa Trời đã
đem Ngài ra khỏi mồ mả. Lời xác
nhận kỳ lạ của tín hữu Chúa Cứu Thế qua hàng bao thế kỷ, kể cả
nhiều người đang sống hiện nay, ấy là Ngài hiện đang sống ở giữa
chúng ta, vô hình nhưng rất thực hữu.
Bằng chứng này ở ngay trong kinh nghiệm thật của nhiều nhân
chứng đã được tương giao riêng tư với Ngài mỗi ngày. Chúng ta có thể mang những bất mãn thầm
kín của mình đến cho Ngài, Ngài từng phán với chúng ta rằng :
"Cứ đem
đến giao tất cả cho Ta". Bạn đã
thử chưa ? Bạn sẽ thật kinh ngạc thấy Ngài thực hữu và có thể cất
nổi niềm cay đắng cùng tranh cạnh khỏi chúng ta cách kỳ diệu dường
nào. Ngài thay thế những tình cảm hư hoại này bằng tình yêu mà
Ngài đã ban cho chúng ta, không kể chúng ta là người thế nào. Khi nhận được dư dật tình yêu mặc dù,
chúng ta có thể đến gần mọi người chung quanh với cùng tình yêu thương
không đòi hỏi ấy. "Chúng ta
yêu vì Ngài đã yêu chúng ta trước." ( I Giăng 4 : 19 ). Nếu mỗi ngày chúng ta đến với Chúa
và nhận lấy tình yêu vô điều kiện ấy thì phản ứng của tình yêu mới
mẻ này sẽ phát hiện trong chính chúng ta. Chúng ta sẽ yêu một người nào đó không kể người ấy
đối với chúng ta thể nào, rồi người ấy lại yêu một người khác và
cứ thế tiếp tục mãi. Đây là một
điều khác hẳn với những gì chúng ta hiểu biết từ trước. Đây chính là mối tương giao thật, sự
sống thật.
Chúng ta không còn cần
phải tìm kiếm của cải vật chất để làm của riêng nữa. Bây giờ chúng ta có thể xử dụng
chúng như những dụng cụ truyền đạt yêu thương đến tha nhân. Đó mới thật là thụ hưởng tài sản,
chúng đem lại cho chúng ta mãn nguyện và vui thỏa. Chúng ta không cần phải lao mình vào
những hoạt động không ngừng nữa, vì bây giờ chúng ta có thể vui
hưởng từng hành động một, coi đó là một dịp tiện để bày tỏ mình
đang thật "hiện diện" bên cạnh kẻ khác.
Một cậu bé phạm pháp phàn nàn : "Cha tôi dẩn tôi đi rất
nhiều nơi, nhưng trong lúc đi đường chúng tôi thật sự không đi chung
với nhau." Người cha đi bên cạnh
con chẳng qua là những cử động chứ không "thật sự hiện diện" đối
với cậu con. Tình yêu không có
mặt tại đó. Khi chúng ta tìm thấy
tình yêu trong Chúa Cứu Thế, chúng ta không còn cảm thấy thiếu thốn
như vậy nữa. Mỗi giây phút sẽ đem
chúng ta đến gần tình thân hữu khắng khít với một người nào đó dù
chúng ta ra sao hoặc đang làm gì.
Như thế khi đã tìm thấy Chúa Cứu Thế, chúng ta không còn phải
đuổi bắt sự sống nữa. Sự sống
đã đến với chúng ta. "Ai gìn
giữ sự sống thì sẽ mất, còn ai vì cớ Ta mà mất sự sống mình, thì sẽ
được lại". (Ma-thi-ơ 10 : 39)
Vậy, làm sao chúng ta có được sự sống ? Chúng ta phải làm gì ? Tôi hy vọng những lời bàn luận trên không khiến bạn có cảm tưởng sự sống khó tìm. Giải pháp đơn giản vô cùng. Bạn chỉ cần một lời cầu nguyện đơn sơ, cầ xin Đức Chúa Trời tha thứ bạn vì đã cố ý hoặc vô tình từ chối Ngài. Thưa với Ngài rằng bạn thật lòng mong ước sự sống mà Ngài đã sắm sẵn cho bạn, một cuộc sống tương giao kỳ diệu với Ngài. Rồi trong lời cầu nguyện, bạn hãy hướng về Chúa Cứu Thế Giê-xu, thưa với Ngài rằng bạn muốn chấp nhận tình yêu lớn lao mà Ngài đã bày tỏ cho bạn qua sự chết của Ngài trên Thập tự giá. Cầu xin Ngài ban tình yêu ấy tràn ngập trong bạn, và từ đây làm chủ mọi tình cảm, tư tưởng, lời nói cùng hành động của bạn để mọi việc làm của bạn đều nói lên tình yêu Ngài đang hành động trong bạn. Bạn sẽ tha thứ như Ngài đã tha thứ bạn, bạn sẽ phục vụ như Ngài đã phục vụ mọi người, bạn sẽ nói lên để kẻ khác biết về Ngài. Bạn có thể cầu nguyện cách riêng tư như thế khi đọc những dòng này. Bạn có thể thực hiện ngay lúc đang đi đường. Bạn có thể cầu nguyện chung với những người thân yêu. Bạn có thể làm theo mọi lời này bất cứ ở đâu và khi nào cũng được. Có lẽ bạn sẽ không thấy một xúc cảm, một phép lạ nào chứng tỏ sự biến đổi hữu hình. Nhưng chẳng bao lâu đời sống bạn sẽ khác hẳn khiến bạn tin chắc rằng bạn đã thật được buớc vào mối tương giao sống động với Chúa Cứu Thế Giê-xu. Rồi bạn tự hỏi : "Tôi thật đang sống chăng ?".
Và bạn sẽ sung sướng với câu trả lời của mình.
Masumi
Toyotome, Ph.D.
Tiến sĩ Masumi
Toyotome sinh trưởng tại Nhật Bản nhưng sống tại Hoa kỳ năm 11
tuổi. Ông tốt nghiệp Cao học Lý
Hóa tại Đại học California (UCLA) năm 1941; Cao học thần khoa tại
chủng viện Union, New York năm 1945 ; và tiến sĩ Văn chương tại Đại
học Columbia, New York, năm 1953.
Ông từng làm tổng giám đốc Hội chiến lược truyền giáo (Missionary Stategy Agency). Ông đang dạy tại chủng viện Fuller, và là Giám đốc trung tâm Nghiên cứu Á-Mỹ tại Đại học Willam Carey,California, Hoa kỳ.
Ông đã thăm
viếng Việt Nam nhiều lần và tổ chức nhiều khóa hội thảo truyền
giáo cá nhân cho sinh viên Việt Nam trong các năm 1964-1968.